Kính gửi các anh chị đầu tư!
Team buôn nước mắm Cập nhật các báo cáo từ ngày 05/01 – 09/01/2026
- DGW [ Tích cực – 48,500đ/cp ] Kqkd quý 4 cao kỷ lục – PHS.
- Ngành Công nghệ: Hồi phục sau khó khăn ngắn hạn – KBSV..
- NNC [ Bán – 51,400đ/cp] Thị giá đã vượt quá triển vọng tăng trưởng– DSC..
- Báo cáo ETF: Dự báo danh mục – VN30 – ACBS.
- Báo cáo chiến lược tháng 1/2026 – PSI.
- Báo cáo kinh tế vĩ mô – PSI.
- Báo cáo Ngành Dầu Khí: Dòng chảy tăng trưởng, đón sóng bứt phá – AGR..
- Ngành Điện: Tăng trưởng trên cơ sở cân bằng cung cầu – KBSV..
- Ngành Vật liệu xây dựng: Nhu cầu trong nước là động lực chính thúc đẩy sản lượng tiêu thụ trong 2026 – KBSV
- Ngành Ngân hàng: Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng – KBSV..
- Ngành Điện: Ngành Điện tang tốc triển khai dự án mới – VCBS.
- Ngành dầu khí: Triển vọng dầu khí – lng – năng lượng tái tạo – VCBS.
- Ngành Tiêu dung: Triển vọng tích cực và định giá hấp dẫn – KBSV..
- Ngành Nước 1H.2026 – VCBS.
- Ngành Ngân hang: Vững nhịp tăng trưởng – VCBS.
- Ngành Bất động sản dân cư: Hưởng lợi từ đẩy mạnh hạ tầng và tháo gỡ pháp lý – KBSV..
- Ngành BĐS Khu công nghiệp: Thách thức ngắn hạn mở ra dư địa trong dài hạn – KBSV..
- Ngành BĐS khu Công nghiệp: Tiếp đà tăng trưởng – SHS.
- Ngành Xây dựng: Nguồn cung công việc tích cực – KBSV..
Quý nhà đầu tư lưu ý
Đây là báo cáo tổng hợp quan điểm từ phía các công ty chứng khoán, KHÔNG PHẢI QUAN ĐIỂM CỦA TEAM.
1. DGW [ Tích cực – 48,500đ/cp ] Kqkd quý 4 cao kỷ lục – PHS
- DGW công bố KQKD Q4/2025 sơ bộ với doanh thu đạt gần 8,200 tỷ đồng (+40% YoY) – mức cao nhất theo quý từ trước đến nay. Lũy kế cả năm 2025, doanh thu DGW ước đạt 26,748 tỷ đồng (+21.2% YoY), vượt 5% kế hoạch năm và vượt 10% so với kỳ vọng trước đó của PHS, phản ánh sự phục hồi rõ nét của nhu cầu tiêu dùng công nghệ.
- Động lực tăng trưởng đến từ các ngành hàng cốt lõi: máy tính xách tay và máy tính bảng (Q4: +80% YoY) nhờ xu hướng nâng cấp thiết bị tích hợp AI; điện thoại (Q4: +20% YoY) với iPhone 17 mới ra mắt; thiết bị văn phòng (Q4: +37% YoY) với mức tăng tích cực từ nhóm Server và IoTs; và thiết bị gia dụng (Q4: +55% YoY) nhờ mở rộng các sản phẩm từ Xiaomi.
- PHS kỳ vọng triển vọng trung hạn tích cực dành cho DGW, với thiết bị văn phòng và thiết bị gia dụng giữ vai trò dẫn dắt đà tăng trưởng nhờ (1) xu hướng nâng cấp thiết bị và hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số và AI hóa; (2) đô thị hóa mạnh mẽ và mức độ am hiểu công nghệ của người tiêu dùng ngày càng cao.
- DGW đang giao dịch tại P/E forward là 16.0x – thấp hơn mức trung bình 5 năm là 18.2x. PHS duy trì khuyến nghị TĂNG TỶ TRỌNG với giá mục tiêu là 48,500 VND/cổ phiếu, tương ứng tiềm năng tăng giá so với giá đóng cửa ngày 06/01/2026 là 15%.
Link tải full báo cáo:
http://cafef1.mediacdn.vn/Images/Uploaded/DuLieuDownload/PhanTichBaoCao/455812012026094929.pdf
2. Ngành Công nghệ: Hồi phục sau khó khăn ngắn hạn – KBSV
- Chi tiêu cho CNTT toàn cầu tiếp tục là động lực tăng trưởng toàn ngành KBSV quan điểm rằng chi tiêu cho công nghệ thông tin toàn cầu trong năm 2026 dự kiến sẽ hồi phục nhờ: i) Xu hướng tiết kiệm chi phí, hạn chế chi tiêu lớn của các doanh nghiệp để tập trung cho hoạt động khôi phục sản xuất và AI, ii) Các giải pháp công nghệ giải quyết hiệu quả bài toán kinh doanh tiết kiệm chi phí sẽ được ưu tiên. Dự báo tăng trưởng chi tiêu cho CNTT đạt 9.8% trong 2026, theo Gartner.
- Chi tiêu thị trường Châu Á – Thái Bình Dương là điểm sáng hồi phục Với đặc điểm kinh tế gắn bó chặt chẽ với hoạt động thương mại toàn cầu, Châu Á Thái Bình Dương sẽ trở thành điểm sáng tăng trưởng sau giai đoạn căng thẳng thuế quan. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất quay trở lại Hoa Kì sẽ tiếp tục thúc đẩy đầu tư chuyển đổi số. Đối với Châu Âu, việc đầu tư mở rộng công suất điện tái tạo sẽ là động lực chính cho tăng trưởng chi tiêu 1 chữ số của khu vực.
- Biên lợi nhuận của các công ty duy trì ổn định nhờ tối ưu chi phí Trong bối cảnh tăng trưởng hợp đồng ký mới giảm tốc, KBSV đánh giá cao khả năng quản trị chi phí và lợi thế tự chủ 1 phần nhân lực của FPT thông qua đào tạo sẽ tiếp tục giúp doanh nghiệp duy trì được biên lợi nhuận trong các năm tiếp theo.
- Chính sách thúc đẩy công nghiệp công nghệ số của Việt Nam Luật công nghiệp công nghệ số là dấu mốc quan trọng của Việt Nam trong việc định hướng trở thành trung tâm sản xuất công nghệ toàn cầu. KBSV kì vọng các cơ chế mới sẽ được quy định sẽ là tiền đề cho các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghệ như FPT, CMG phát triển trong tương lai.
Link tải full báo cáo:
3. NNC [ Bán – 51,400đ/cp] Thị giá đã vượt quá triển vọng tăng trưởng– DSC
- Sản lượng tiêu thụ tăng trưởng thấp hơn nhu cầu đá khu vực do giới hạn công suất, và dự báo giảm mạnh từ 2028 khi các dự án hạ tầng lớn quanh cụm mỏ Đồng Phú – Phú Giáo hoàn thiện (chi tiết) Sản lượng tiêu thụ đá của NNC dự phóng đạt 1,2 triệu m3 (+14,3% YoY) năm 2025F và chạm trần công suất 1,4 triệu m3 vào năm 2026F. Mức tăng trưởng sản lượng trung bình 2025F – 2027F đạt 8,0%/năm, thấp hơn so với tăng trưởng nhu cầu đá quanh cụm mỏ Đồng Phú – Phú Giáo là 34,7%/năm do giới hạn công suất. Sản lượng tiêu thụ của NNC dự phóng giảm mạnh (-43,8 YoY%) từ năm 2028F, duy trì quanh mức 0,8 triệu m3 do nhu cầu đá trong khu vực giảm mạnh từ 4,9 triệu m3 (2027F) xuống khoảng 3,0 triệu m3 (2028F) và do mỏ Mũi Tàu phải cạnh tranh với nguồn cung gia tăng từ hai mỏ Tam Lập.
- Biên lợi nhuận gộp dự phóng tăng trong giai đoạn 2025F – 2027F, sau đó giảm mạnh giai đoạn 2028F – 2029F do giá bán đá gặp áp lực nguồn cung mới từ hai mỏ Tam Lập (chi tiết) Biên lợi nhuận gộp của NNC dự phóng đạt 47,7% năm 2025F (+16,1 đpt YoY) và tăng lên 59,7% trong năm 2027F, nhờ giá bán đá tăng do nhu cầu từ các dự án hạ tầng lớn và chi phí dịch vụ mua ngoài/m3 và vật liệu nổ/m3 đá giảm cùng giai đoạn. Tuy nhiên, biên lợi nhuận gộp dự phóng sẽ giảm trong giai đoạn 2028F – 2029F do nguồn cung mới từ hai mỏ Tam Lập vượt nhu cầu trong cụm khiến giá bán đá giảm mạnh.
Link tải full báo cáo:
4. Báo cáo ETF: Dự báo danh mục – VN30 – ACBS
- Trong kỳ công bố Q1.2026, cổ phiếu BCM dự kiến sẽ bị loại khỏi rổ VN30-Index do vi phạm tiêu chí về giá trị giao dịch khớp lệnh (GTGD_KL). Cụ thể, tại thời điểm xem xét, BCM đang giao dịch với GTGD_KL ghi nhận khoảng 27 tỷ đồng, nhỏ hơn ngưỡng điều kiện là 30 tỷ đồng. Ngược lại, cổ phiếu VPL dự kiến sẽ được thêm mới thay thế cổ phiếu bị loại ra trong kỳ này.
- FPT là cổ phiếu chiếm tỷ trọng cao nhất trong rổ VN30 trong kỳ cơ cấu Q1.2026, với tỷ trọng 10% (ngưỡng tỷ trọng cao nhất đối với cổ phiếu riêng lẻ). Theo sau là HPG (9,79%) và VIC (8,12%).
- Nhóm cổ phiếu VIC là nhóm ghi nhận giảm tỷ trọng nhiều nhất trong kỳ cơ cấu này, do theo quy định về giới hạn tỷ trọng (15% đối với nhóm cổ phiếu liên quan). Theo đó, tỷ trọng của VIC giảm từ 14,7% còn 8,1%. Vì vậy, trong kỳ cơ cấu Q1.2026, ước tính VIC sẽ bị bán ròng khoảng 666 tỷ đồng bởi các quỹ ETF mô phỏng chỉ số VN30. Ở chiều ngược lại, HPG ước tính được mua ròng khoảng 146 tỷ đồng.
Link tải full báo cáo:
5. Báo cáo chiến lược tháng 1/2026 – PSI
- Thị trường chứng khoán Việt Nam khép lại năm 2025 với cột mốc lịch sử. Thị trường chứng khoán Việt Nam kết thúc phiên giao dịch ngày 31/12 với chỉ số VN-Index bật tăng 17.59 điểm và đóng cửa tại mốc 1,784.49 điểm, chính thức vượt đỉnh mọi thời đại (tính theo giá đóng cửa). 2025 có thể xem là năm tích cực nhất trong lịch sử chứng khoán Việt Nam khi VNIndex tích lũy tổng cộng 517.71 điểm, tương ứng 40.87%. Đây là năm thứ ba liên tiếp chỉ số cải thiện, đồng thời ghi nhận mức tăng tốt nhất trong 8 năm qua kể từ năm 2017.
- Thanh khoản tiếp tục suy giảm trong tháng cuối cùng năm 2025. GTGD trung bình phiên toàn thị trường trong tháng 12 tiếp tục giảm nhẹ xuống còn gần 21,000 tỷ đồng/phiên. Lũy kế cả năm 2025, GTGD trung bình phiên toàn thị trường đạt hơn 26,000 tỷ đồng/phiên, tăng gần 43% so với năm 2024.
- Khối ngoại quay trở lại mua ròng trong tháng 12. Sau 4 tháng liên tục bán ròng với giá trị kỉ lục, khối ngoại quay trở lại mua ròng tích cực trên sàn HOSE với giá trị hơn 2,593 tỷ đồng, trong khi đó vẫn duy trì bán ròng trên 2 sàn HNX và UPCoM. Lũy kế cả năm 2025 khối ngoại bán ròng kỷ lục với tổng giá trị -135,329 tỷ đồng tương đương gần 5.2 tỷ USD.
Link tải full báo cáo:
6. Báo cáo kinh tế vĩ mô – PSI
- Mỹ chứng kiến tăng trưởng kinh tế Q3/2025 ấn tượng nhưng động lực chính cho tăng trưởng là tiêu dùng có dấu hiệu suy yếu trong Q4/2025. Ngành sản xuất nước này cũng gặp khó khăn do chi phí tăng dưới áp lực thuế quan. Fed hạ lãi suất lần thứ 3 trong năm 2025 dù thiếu các dữ liệu quan trọng nhưng khả năng cho lần cắt giảm tiếp theo vào tháng 1/2026 là rất thấp.
- Kinh tế Trung Quốc hấp thụ chậm các chính sách kích thích. Sức mua yếu đòi hỏi các chính sách trợ cấp quy mô lớn hơn và phạm vi trợ cấp rộng hơn trong năm 2026. Ở chiều ngược lại, thặng dư thương mại của Trung Quốc vẫn vượt 1,000 tỷ USD bất chấp các chính sách bảo hộ nhắm vào quốc gia này.
Link tải full báo cáo:
7. Báo cáo Ngành Dầu Khí: Dòng chảy tăng trưởng, đón sóng bứt phá – AGR
- Triển vọng giá dầu thô: Năm 2025, giá dầu thô Brent đạt bình quân khoảng 68 USD/thùng, thấp hơn khoảng 13 USD so với mức bình quân năm 2024. Bước sang năm 2026, giá dầu được các tổ chức dự báo giảm xuống khoảng 60-65 USD/thùng trong bối cảnh tăng trưởng nhu cầu chậm lại trong khi nguồn cung tiếp tục mở rộng. Đến năm 2027, giá dầu thô Brent được kỳ vọng phục hồi về khoảng 67 USD/thùng, nhờ thị trường bước vào giai đoạn tái cân bằng khi mức giá thấp của năm 2026 khiến sản lượng dư thừa bị thu hẹp.
- Nguồn cung dầu – Tăng mạnh trong năm 2026: Nguồn cung dầu toàn cầu được dự báo tăng trong năm 2026 khi nhiều dự án khai thác mới đi vào vận hành. Sản lượng năm 2025 ước tính tăng 3,0 triệu thùng/ngày (tương đương 2,9%), lên mức 106,1 triệu thùng/ngày – mức cao kỷ lục mới. Đến năm 2026, dự báo sản lượng tiếp tục tăng lên 108,5 triệu thùng/ngày, trong đó, gần một nửa mức tăng đến từ khối OPEC+.
Link tải full báo cáo:
https://cafef1.mediacdn.vn/Images/Uploaded/DuLieuDownload/PhanTichBaoCao/200032812012026110008.pdf
8. Ngành Điện: Tăng trưởng trên cơ sở cân bằng cung cầu – KBSV
- Kết quả kinh doanh 9T/2025 có sự phân hóa Thủy điện trở thành nguồn cung chính trong tổng sản lượng cả nước, nhờ đó các doanh nghiệp có một năm kinh doanh thuận lợi. Kết quả kinh doanh (KQKD) nhóm điện than giảm sút do đối mặt sản lượng bị suy giảm và giá bán trung bình trên thị trường cạnh tranh (FMP) giảm một nửa so với cùng kì. Điện khí nhờ điều kiện vận hành thuận lợi nên ghi nhận tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ấn tượng.
- Sản lượng điện 2026 tăng trưởng từ mức nền thấp KBSV đánh giá tăng trưởng tốc độ cao của tiêu thụ điện sẽ quay trở lại trong năm 2026 nhờ các động lực chính: i) Nhóm sản xuất công nghiệp gắn liền đầu tư công và xuất khẩu dẫn dắt tăng trưởng, ii) Nền nhiệt dự báo cao hơn khiến nhu cầu sử dụng thiết bị làm mát gia tăng iii) Các dự án điện quan trọng hoàn thành và đưa vào sử dụng đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ điện.
- Điện than thay thế thủy điện trở thành trụ cột cung ứng Với dự phóng tiêu thụ điện sẽ đạt tăng trưởng ở mức cao và áp lực cạnh tranh huy động với thủy điện được giảm bớt, KBSV cho rằng kịch bản huy động điện trong 2026 sẽ có sự tương đồng với 2024, khi mà điện than đóng vai trò trụ cột chính trong sản xuất điện. Với thủy điện, sản lượng có thể được duy trì trong nửa đầu năm nhưng sau đó bước vào giai đoạn suy giảm trong nửa cuối 2026. Đối với diện khí, nhà máy Nhơn Trạch 3&4 khi đi vào hoạt động sẽ đóng góp vào tăng trưởng tiêu thụ điện toàn ngành.
- Tiến độ triển khai các công trình năng lượng mới tích cực Các động lực chính giúp thu hút nguồn vốn và gia tăng đầu tư xây dựng hạ tầng điện lực gồm: i) Bảo đảm nguồn cung thượng nguồn dầu khí với kế hoạch chi tiêu đầu tư hạ tầng dầu khí cao kỷ lục trong 2025-2026, đạt hơn 25,000 tỷ VND (+125%% YoY) là cơ sở triển khai các nhà máy khí nội địa; ii) Tháo gỡ thủ tục pháp lý với các dự án trọng điểm ngành năng lượng; iii) Tình hình tài chính EVN cải thiện hỗ trợ giải ngân đầu tư hạ tầng lưới điện và iv) Lượng lớn công suất năng lượng tái tạo sẽ được triển khai sau khi đấu thầu.
Link tải full báo cáo:
9. Ngành Vật liệu xây dựng: Nhu cầu trong nước là động lực chính thúc đẩy sản lượng tiêu thụ trong 2026 – KBSV
- Tăng trưởng LNST của các doanh nghiệp VLXD 9M2025 có sự phân hóa Sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp sản xuất được hỗ trợ bởi nhu cầu hồi phục từ thị trường nội địa với hai động lực chính tới từ sự hồi phục của thị trường Bất động sản và các dự án đầu tư công được đẩy mạnh giải ngân và triển khai. Đối với ngành Thép, KQKD có sự khác biệt giữa nhóm hưởng lợi và nhóm chịu thiệt từ các chính sách bảo hộ, chống bán phá giá trong và ngoài nước. Đối với lĩnh vực Ống nhựa, giá PVC resin đầu vào tiếp tục duy trì ở vùng thấp giúp doanh nghiệp sản xuất duy trì biên lãi gộp của vùng cao.
- Tăng trưởng lợi nhuận ngành thép trong 2026 sẽ tiếp tục có sự chênh lệch Chúng tôi kỳ vọng nhu cầu tiêu thụ trong nước tiếp tục là động lực chính thúc đẩy sản lượng tiêu thụ thép toàn ngành trong 2026. Trong bối cảnh kênh xuất khẩu được dự báo sẽ tiếp tục khó khăn, KBSV cho rằng tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận sẽ ủng hộ các nhà sản xuất (1) được hưởng lợi từ chính sách, có công suất mới và/hoặc sản phẩm mới có thể đáp ứng nhu cầu gia tăng của thị trường, (2) có khả năng duy trì, mở rộng thị phần, kênh bán. KBSV cũng kỳ vọng giá thép trung bình sẽ có sự hồi phục nhẹ 3% so với cùng kỳ, được hỗ trợ bởi nhu cầu gia tăng trong nước sau 4 năm giảm liên tiếp.
- Tăng trưởng lợi nhuận của ngành ống nhựa phụ thuộc lớn vào giá PVC resin Giá PVC resin tiếp tục giảm 8% YoY trong 2025 và được dự báo sẽ tiếp tục duy trì ở vùng thấp trong 2026 khi nhu cầu tiêu thụ tại Trung Quốc chưa có tín hiệu cải thiện khi thị trường Bất động sản và hoạt động sản xuất chưa xuất hiện tín hiệu khởi sắc rõ ràng. KBSV kỳ vọng chi phí đầu vào ổn định sẽ hỗ trợ các nhà sản xuất duy trì biên lãi gộp ở vùng cao trong 1H2026, tuy nhiên, rủi ro giá PVC resin có thể đảo chiều trong trường hợp tồn kho giá cao được xử lý và công suất dư thừa được cắt giảm trong 2H2026 cần được lưu ý.
Link tải full báo cáo:
10. Ngành Ngân hàng: Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng – KBSV
- Năm đầu tiên của “Kỷ nguyên vươn mình” đánh dấu sựdịch chuyển rõ nét trong điều hành vĩ mô, với chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng được sửdụng nhất quán nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng là kênh truyền dẫn chính sách quan trọng, ghi nhận tăng trưởng tín dụng ở mức cao nhất trong 10 năm trở lại đây, vượt kế hoạch 16% dù chưa hết năm. Để thúc đẩy tăng trưởng và phù hợp với định hướng duy trì mặt bằng lãi suất thấp, NIM của nhiều ngân hàng tiếp tục chịu áp lực thu hẹp, phản ánh sự đánh đổi giữa biên lợi nhuận và mở rộng quy mô. Chất lượng tài sản nhìn chung được cải thiện và duy trì ổn định, nhờ môi trường kinh tế thuận lợi hơn và các chính sách hỗ trợ khách hàng. Mặc dù vẫn chịu tác động từcác yếu tố bên ngoài (thuế quan, áp lực tỷ giá), lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng v ẫn ghi nhận mức tăng trưởng tương đối tích cực (+13% YoY trong 9 tháng đầu năm).
- Năm 2025 đóng vai trò bản lề quan trọng khi hàng loạt thay đổi chính sách được triển khai theo hướng mở rộng độ mở của thị trường và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao hơn, qua đó tạo nền tảng thuận lợi cho ngành ngân hàng bước sang năm 2026 với triển vọng tích cực hơn. KBSV kỳ vọng đà tăng trưởng tín dụng sẽ được duy trì trong năm 2026 (18-20%), nhờ môi trường kinh doanh tương đối thuận lợi và vai trò trung tâm của tín dụng trong điều hành vĩ mô. Trong bối cảnh chi phí vốn gia tăng, NIM được dựbáo duy trì ổn định, nhờ tăng trưởng tín dụng mạnh, và đóng góp ngày càng rõ nét từthu nhập ngoài lãi. Bên cạnh đó, những câu chuy ện tăng vốn và hướng tới Basel 3, triển khai sàn giao dịch tài sản số và vàng cũng góp phần củng cố năng lực và triển vọng của các ngân hàng trong trung – dài hạn.
Link tải full báo cáo:
11. Ngành Điện: Ngành Điện tang tốc triển khai dự án mới – VCBS
- Sản lượng điện tăng trưởng chậm trong 2025. Thông tin của EVN, sản lượng điện sản xuất toàn EVN ước đạt 287.9 tỷ kWh (+4,9% YoY), VCBS cho rằng nguyên nhân chính đến từ (1) Thời tiết không quá nắng nóng, nền nhiệt độ thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024 và diễn biến thiên tai cực đoan (2) Nguồn điện mặt trời tự sản tự tiêu tăng trưởng mạnh, sản lượng 2025 ước tính khoảng 10 tỷ kWh (~4% tổng sản lượng điện). Trong khi đó, số liệu của GSO cho thấy GDP cả năm 2025 tăng trưởng 8,02%, đầy là con số tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2011-2025 nếu loại trừ năm 2022 do tăng trưởng mạnh từ nền thấp khi bị dịch Covid-19 ảnh hưởng.
- Về cơ cấu huy động theo nguồn điện trong 2025: điện than đóng góp tỷ trọng lớn nhất với 48%, thủy điện chiếm 31%, tua bin khí chiếm 6%, năng lượng tái tạo chiếm 13%. Nhìn chung, điện than tiếp đóng góp tỷ trọng lớn nhất nhiệt điện được ưu tiên huy động từ đầu năm tuy nhiên tỷ trọng có sự giảm sút do sản lượng từ thủy điện tăng mạnh nhờ tình hình thủy văn đặc biệt trong năm 2025.
- Về cơ cấu thành phần tiêu thụ: điện năng cho công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất trên 53%, điện năng cho sinh hoạt tiêu dùng chiếm khoảng 34%.
Link tải full báo cáo:
12. Ngành dầu khí: Triển vọng dầu khí – lng – năng lượng tái tạo – VCBS
- Sản lượng toàn cầu tăng từ sản lượng của OPEC+: Sản lượng dầu toàn cầu năm 2025 tăng chủ yếu từ việc OPEC+ nới lỏng cắt giảm. Từ tháng 4/2025, nhóm này công bố tăng thêm khoảng 2.9 triệu thùng/ngày, tương đương khoảng 2.7–2.9% nguồn cung toàn cầu, dù mức tăng thực tế thường thấp hơn mục tiêu theo các khảo sát dòng chảy dầu. Theo EIA, nguồn cung dầu thế giới dự kiến tăng trung bình 3.1 triệu thùng/ngày trong 2025 và 2.5 triệu thùng/ngày trong 2026, lên khoảng 108.7 triệu thùng/ngày, với các nước ngoài OPEC+ đóng góp 1.7 triệu thùng/ngày năm 2025 và 1.2 triệu thùng/ngày năm 2026. IEA cũng đưa ra dự báo tương tự, cho rằng nguồn cung toàn cầu năm 2025 sẽ tăng khoảng 3.1 triệu thùng/ngày, đạt xấp xỉ 106.3 triệu thùng/ngày.
- Nhu cầu dầu tăng trưởng chậm lại: nhóm nghiên cứu hàng hóa của J.P. Morgan cho biết nhu cầu dầu mỏ toàn cầu trung bình đạt 105,8 triệu thùng/ngày tính đến ngày 28/10. Con số này cao hơn 250.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái. Các chỉ báo theo tần suất cao cho thấy mức tiêu thụ dầu tại Mỹ vẫn ở mức thấp, do hoạt động đi lại giảm – số chuyến bay hàng ngày giảm 7% so với tuần trước tính đến ngày 3/11, chủ yếu vì tình trạng đóng cửa tạm thời kéo dài. Tại Đông Á, nhu cầu nguyên liệu cho ngành hóa dầu vẫn yếu hơn bình thường, trong khi hoạt động công nghiệp ở Đức tiếp tục suy giảm sang tháng thứ ba liên tiếp.
- Tổng lượng dự trữ dầu toàn cầu tăng từ đầu năm lên 356 triệu thùng. Theo khu vực, dự trữ dầu tại các nước OECD tăng 81 triệu thùng, Trung Quốc tăng 77 triệu thùng, trong khi lượng dầu trên biển, trong kho nổi và ở các khu vực khác tăng thêm 198 triệu thùng. Dù tổng dự trữ toàn cầu tăng, lượng dầu thô tồn kho trên đất liền lại liên tục giảm từ tháng 6, với mức giảm 51 triệu thùng, tương đương 340.000 thùng/ngày, theo J.P. Morgan.
- Giá dầu: Về bản chất, thông tin Mỹ bắt Tổng thống Venezuela không gây cú sốc nguồn cung, do Venezuela hiện chỉ sản xuất khoảng ~1 triệu thùng/ngày, tỷ trọng nhỏ trong nguồn cung toàn cầu. Phản ứng của giá dầu vì vậy chủ yếu mang tính tâm lý ngắn hạn, nhất là trong bối cảnh thị trường đang dư cung. Tuy nhiên, sự kiện có thể làm gia tăng lo ngại về bất ổn chính trị tại Venezuela, từ đó tạo rủi ro gián đoạn nguồn cung trong ngắn hạn, dù tác động thực tế còn hạn chế. Về trung – dài hạn, nếu Mỹ nới lỏng trừng phạt, cho phép đầu tư vào dầu khí Venezuela, nguồn cung có thể gia tăng, gây áp lực giảm giá dầu. Ngược lại, nếu bất ổn chính trị leo thang tại Venezuela hoặc Mỹ Latinh, rủi ro địa chính trị có thể hỗ trợ giá dầu. Tổng thể, trong điều kiện dư cung hiện nay, giá dầu khó tăng mạnh nếu không xuất hiện một cú sốc địa chính trị lớn; biến động hiện tại chủ yếu phản ánh yếu tố tâm lý.
Link tải full báo cáo:
13. Ngành Tiêu dung: Triển vọng tích cực và định giá hấp dẫn – KBSV
- Kết quả kinh doanh 9T2025 phân hóa Ở ngành hàng tiêu dùng mà chúng tôi theo dõi (MSN, VNM, QNS), hầu hết doanh nghiệp ghi nhận doanh thu sụt giảm và kém hơn kì vọng do tác động của thắt chặt quy định thuế khoán đến các cửa hàng bán lẻ, cạnh tranh tiếp tục gay gắt và người tiêu dùng tiếp tục có xu hướng tiết kiệm. Ở chiều ngược lại, giá heo neo cao do bệnh dịch và bão lũ trong hơn 1 năm qua đã phần nào giúp doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp chăn nuôi heo (DBC, BAF, HPA) tăng trưởng vượt bậc trong 9T-2025 so với cùng kì. Về thủy sản xuất khẩu, KQKD của các doanh nghiệp có sự tăng trưởng tương đối ổn định, chủ yếu nhờ chi phí nuôi ổn định và làn sóng chạy trước đơn hàng trong 9T-2025.
- Triển vọng 2026 Kinh tế và tiêu dùng trong năm tới được thúc đẩy bởi mục tiêu tăng trưởng cao và giảm trừ thuế TNCN, hứa hẹn đem lại nhiều dư địa cho các doanh nghiệp hàng tiêu dùng tại thị trường nội địa. KBSV kì vọng các thương hiệu tiêu dùng hàng đầu là MSN và VNM sẽ duy trì được vị thế dẫn đầu nhờ nền tảng phân phối phủ khắp, nhận diện thương hiệu cao và cải tiến sản phẩm. Về ngành chăn nuôi lợn, KBSV kì vọng thị phần tiếp tục có xu hướng dần tập trung về các doanh nghiệp lớn, đem lại triển vọng tăng trưởng sản lượng tích cực trong khi giá bán heo được kì vọng tiếp tục neo cao. Về ngành thủy sản xuất khẩu, KBSV dự báo mức tăng trưởng thấp hoặc sụt giảm nhẹ với cạnh tranh cao tại các thị trường chính như Mỹ và Châu Âu khi các rào cản thương mại vẫn tiềm ẩn rủi ro nhất định.
- Định giá hấp dẫn cho thủy sản, tiềm năng tăng trưởng tốt với hàng tiêu dùng nội địa Chúng tôi ưa thích VNM và MSN với vị thế vững chắc và dư địa tăng trưởng rõ ràng trong 2026. Trong đó, MSN là sự lựa chọn tốt hơn ở thời điểm hiện tại, dựa theo tiềm năng tăng giá. Cùng với đó, chúng tôi cũng khuyến nghị MUA đối với VHC và FMC, hai doanh nghiệp thủy sản cá tra và tôm hàng đầu với mức giá đã được chiết khấu về mức hấp dẫn.
Link tải full báo cáo:
14. Ngành Nước 1H.2026 – VCBS
- Điều 54 Nghị định 117/2007/NĐ-CP, BTC ban hành khung giá nước sạch sinh hoạt trên toàn quốc. UBND cấp tỉnh là cơ quan phê duyệt và ban hành khung giá nước sạch tại địa phương. Theo Thông tư 44/2021/TT-BTC quy định khung pháp lý xây dựng giá nước sạch được xác định dựa theo công thức sau: (Chi phí nước/m3 + Lợi nhuận định mức )*Hệ số. Mức lợi nhuận định mức dao động từ 360 VND/m3-1.500VND/m3. Riêng hệ số được UBND quy định
- Quyết định 3541/QĐ-UBND Hà Nội 2023 quy định về giá bán nước sạch cho hộ dân cư và các cơ quan sản xuất trong giai đoạn 2023-2024 với mức tăng trên 10%. Đối với giá bán buôn năm 2025, UBND Hà Nội đã tăng giá bán sau hơn 10 năm lên 7.767 đồng/m3 (+55% so với trước đó) vào ngày 28/3/2025.
- UBND TP.HCM đã ban hành QĐ 25/2019/QĐ-UBND quy định về khung giá nước sạch trong giai đoạn 2019-2022. với mức tăng trung bình khoảng từ 5%-7%/năm. Vào Q4/2024, TPHCM đã báo cáo Bộ Tài Chính lộ trình tăng giá nước 2025-2028 tăng từ 2%-8%/năm
- Dựa trên khung pháp lý hiện tại, VCBS cho rằng xu hướng tăng giá của ngành nước tương đối chậm dựa trên tốc độ tăng chi phí đầu vào. Đối với các doanh nghiệp có dự án nâng cấp, mở rộng, đầu tư lớn, giá nước có thể sẽ được điều chỉnh với sự chênh lệch lớn.
Link tải full báo cáo:
15. Ngành Ngân hang: Vững nhịp tăng trưởng – VCBS
- Tín dụng toàn hệ thống ghi nhận mức tăng trưởng 17,87% tính tới 25/12/2025, cao hơn đáng kể so với mức 13,82% cùng kỳ 2024 và là mức cao nhất trong nhiều năm. Trong đó, tín dụng ghi nhận tăng mạnh tại nhóm ngân hàng có hệ sinh thái và thế mạnh cho vay doanh nghiệp. Nhiều ngân hàng bắt đầu kín room và tập trung vào tối ưu danh mục sinh lời thay vì đẩy tín dụng trong khi chờ NHNN nới room bổ sung trong tháng 12.
- Tín dụng bắt đầu tăng tốc kể từ giữa quý 2, các ngân hàng được chính phủ khuyến khích giải ngân nhằm hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế.
- Đáng chú ý, các ngân hàng dần dịch chuyển cơ cấu tín dụng sang cho vay trung và dài hạn, đẩy mạnh tín dụng bán lẻ.
Link tải full báo cáo:
16. Ngành Bất động sản dân cư: Hưởng lợi từ đẩy mạnh hạ tầng và tháo gỡ pháp lý – KBSV
- Kết quả kinh doanh 9T2025 của các DN BĐS cho thấy sự hồi phục Doanh thu của các doanh nghiệp BĐS niêm yết trong 9M2025 đạt 300,767 tỷ VND (+29%YoY), LNST đạt 41,944 tỷ VND (+65%YoY). Nếu không tính nhóm cổ phiếu thuộc họ Vin và NVL, kết quả kinh doanh của các DN BĐS hồi phục nhẹ; cụ thể, doanh thu đạt 30,046 tỷ VND (-4%YoY) và LNST đạt 5,467 tỷ VND (+14%YoY). Tuy nhiên chỉ có 34/63 DN quan sát có lợi nhuận tăng trưởng dương so với cùng kỳ, cho thấy sự phân hóa trong KQKD của các DN.
- Thị trường BĐS phục hồi ổn định nhờ cải thiện nguồn cung và pháp lý Nguồn cung thị trường Bất động sản tăng, nhưng số lượng giao dịch chưa theo kịp. Theo Bộ Xây dựng, số lượng dự án nhà ở thương mại hoàn thành trong quý 3/2025 là 21 dự án với quy mô khoảng 9,496 căn, đạt tỷ lệ 200% qoq và 131% svck. Trong khi đó, tổng lượng giao dịch đất nền, chung cư và nhà ở riêng lẻ trong 9T2025 chỉ tăng nhẹ 0.6% svck. Điều này giải thích cho lượng hàng tồn kho cuối Q3/2025 đã tăng 56% so với đầu năm. Tiêu thụ Bất động sản chưa tăng trưởng mạnh, phần nào phản ánh áp lực từ mức giá neo cao, hạn chế khả năng tiếp cận Bất động sản, đặc biệt là nhóm có thu nhập trung bình (nhóm có nhu cầu mua nhà cao).
- Các doanh nghiệp BĐS trong năm 2026 sẽ tăng trưởng tích cực từ cải thiện nguồn cung KBSV kỳ vọng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp BĐS trong năm 2026 sẽ tăng trưởng tích cực từ cải thiện nguồn cung nhờ (1) Xu hướng tháo gỡ pháp lý, hoàn thiện cơ chế đối với thị trường Bất động sản (2) Thúc đẩy hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối, mở ra nhiều cơ hội phát triển và (3) Lãi suất duy trì ở mức phù hợp để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Link tải full báo cáo:
17. Ngành BĐS Khu công nghiệp: Thách thức ngắn hạn mở ra dư địa trong dài hạn – KBSV
- Diện tích hấp thụ đất KCN suy giảm – phản ánh Tradewar 2.0 Lũy kế 9T2025, diện tích hấp thụ ghi nhận xu hướng suy giảm so với cùng kỳ, với mức giảm rõ nét hơn kể từ khi Tradewar 2.0 diễn ra. Tại khu vực miền Nam, diện tích cho thuê mới chỉ đạt 80ha, tương đương mức giảm 70% so với cùng kỳ 2024. Trong khi đó, miền Bắc ghi nhận diện tích cho thuê mới khoảng 350ha (+6% YoY), tuy nhiên hơn 50% trong số đó tập trung trong quý I/2025, cho thấy đà giảm tốc đáng kể ở các quý sau.
- Giá chào thuê KCN tiếp tục tăng Mặc dù nhu cầu suy yếu, giá chào thuê đất KCN vẫn duy trì xu hướng tăng. Quý 3/2025, giá chào thuê tăng khoảng 4–5% YoY tại cả hai miền, chủ yếu do (1) việc áp dụng bảng giá đất hàng năm khiến chi phí đầu tư của doanh nghiệp tăng lên so với giai đoạn trước; (2) đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông, góp phần tăng giá chào thuê đất KCN.
- Triển vọng dài hạn tích cực – kỳ vọng sự hồi phục bắt đầu trong 2H2026 KBSV cho rằng triển vọng dài hạn của dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam duy trì tích cực, do Tradewar 2.0 không làm thay đổi lợi thế cạnh tranh cốt lõi của Việt Nam, bao gồm (1) mức thuế mà Mỹ áp đối với Việt Nam không khác biệt lớn so với các đối thủ cạnh tranh; (2) lợi thế về chi phí nhân công, nguồn lao động dồi dào và môi trường chính trị ổn định; (3) sự tách biệt giữa Mỹ và Trung Quốc rõ nét tạo áp lực khiến các Tập đoàn Toàn cầu tiếp tục dịch chuyển chuỗi cung ứng. KBSV kỳ vọng dòng vốn FDI đăng ký – tiền đề cho việc thuê đất sẽ hồi phục rõ nét hơn kể từ 2H2026. Ngoài ra, mức nền thấp của 2H2025 cũng củng cố cho sự tăng trưởng của nửa sau 2026. KBSV dự báo diện tích đất bàn giao KCN 2025/2026/2027 đạt lần lượt 530ha (-29% YoY); 600ha (+13%YoY); 750ha (+25% YoY).
- Định giá hấp dẫn cho triển vọng dài hạn Hầu hết các doanh nghiệp đang giao dịch tại mức P/B thấp hơn trung bình 5 năm. Trong đó, 7/8 doanh nghiệp mà chúng tôi theo dõi đang giao dịch ngang/hoặc thấp hơn -1std độ lệch chuẩn của P/B trung bình 5 năm. Đối với cơ hội đầu tư dài hạn, NĐT có thể tìm kiếm cơ hội tại các doanh nghiệp có quỹ đất lớn, tình hình tài chính ổn định và mức định giá hấp dẫn, một số cơ hội đầu tư đáng chú ý SIP, GVR, PHR, KBC.
Link tải full báo cáo:
18. Ngành BĐS khu Công nghiệp: Tiếp đà tăng trưởng – SHS
- Việt Nam tiếp tục thu hút FDI mạnh mẽ sau cú sốc thuế quan nhờ giá điện sản xuất và chi phí nhân công cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Chi phí lao động, logistic, đồng bộ hạ tầng và tự do thương mại là các yếu tố quan trọng quyết định đến chuyển dịch FDI bên cạnh thuế suất. Ngoài ra, môi trường chính trị ổn định, cơ chế thông thoáng, tăng cường chính sách ESG (điện tái tạo)… là các yếu tố ngày càng được FDI quan tâm. Do đó Việt Nam vẫn là lựa chọn khả thi nhờ vị trí địa lý chiến lược, chi phí cạnh tranh và khả năng tiếp cận đa thị trường thông qua các hiệp định thương mại tự do – những nền tảng mà không nhiều quốc gia trong khu vực sở hữu cùng lúc.
- Trong 11 tháng đầu năm 2025, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam ước đạt 23,6 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 11 tháng trong 5 năm qua.
- HCM hiện đang là địa phương dẫn đầu về thu hút dòng vốn FDI cấp mới, với tổng vốn đăng ký mới trong 11 tháng đầu năm đạt hơn 6,5 tỷ USD. Đứng thứ hai là Hà Nội với tổng vốn FDI cấp mới đạt 4,3 tỷ USD. Theo sau là Bắc Ninh, với tổng vốn FDI cấp mới đạt gần 4,2 tỷ USD.
Link tải full báo cáo:
19. Ngành Xây dựng: Nguồn cung công việc tích cực – KBSV
- Doanh thu doanh nghiệp xây dựng tăng trưởng tích cực trong khi tăng trưởng lợi nhuận gộp chậm hơn trong 9T2025 Hầu hết các doanh nghiệp ngành xây dựng đều ghi nhận tăng trưởng doanh thu tích cực trong 9T2025 (CTD/VCG/HHV tăng trưởng 30%/40%/13% yoy) nhờ nguồn công việc ổn định đến từ (1) backlog tích cực cuối 2024, (2) tiến độ các dự án được đẩy nhanh do 2025 là năm cuối của giai đoạn đầu tư công trung hạn 2021 – 2025 và (3) thị trường bất động sản ấm dần lên. Tuy nhiên, lợi nhuận gộp tăng trưởng chậm hơn đáng kể so với doanh thu do (1) cạnh tranh gay gắt trong ngành kéo giảm biên lợi nhuận và (2) chi phí nguyên vật liệu cát, đá tăng.
- Xây dựng bất động sản dân dụng tiếp đà hồi phục nhờ sự ấm lên của thị trường BĐS nhà ở với tổng nguồn cung căn hộ mới ở Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh 2025/2026 dự kiến tăng trưởng 13%/6% yoy. Động lực hồi phục đến từ (1) các nút thắt pháp lý dần được tháo gỡ và (2) hạ tầng giao thông kết nối được tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện.
- Xây dựng công nghiệp chậm lại trong 2026 do chịu ảnh hưởng bởi tâm lý thận trọng của nhà đầu tư và doanh nghiệp sản xuất trước những biến động thuế quan, có thể thấy qua (1) FDI đăng ký đã chững lại từ tháng 6/2025 và (2) nhu cầu thuê đất KCN cũng đang có dấu hiệu chậm lại từ đầu năm đến nay.
- Đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh tạo nguồn công việc ổn định cho nhóm doanh nghiệp hạ tầng trong 2026, động lực đến từ (1) Chính phủ dự kiến phân bổ lên đến 1.08 triệu tỷ VND chi cho đầu tư công trong 2026 và (2) luật Xây dựng sửa đổi mới thông qua đơn giản hóa thủ tục phê duyệt, kỳ vọng đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án. Bên cạnh đó, Quy hoạch Điện VIII với tổng đầu tư cho lưới điện truyền tải 2026-2030 ước đạt 18.1 tỷ USD được tập trung đẩy mạnh sẽ đảm bảo dư địa tăng trưởng dài hạn cho các doanh nghiệp xây lắp điện, đặc biệt trong truyền tải và năng lượng tái tạo.
- KBSV duy trì quan điểm tích cực với nhóm cổ phiếu xây dựng dân dụng và hạ tầng nhờ sự hồi phục của thị trường bất động sản nhà ở và động lực đến từ đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Ngược lại, mảng công nghiệp nhiều khả năng sẽ bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm hơn do tác động từ chính sách thuế quan của Mỹ. Một số cổ phiếu đáng chú ý bao gồm VCG, PC1, CTD, HHV. KBSV đánh giá VCG và PC1 hiện đang ở vùng giá tương đối hấp dẫn khi đều giao dịch dưới mức P/B trung bình 5 năm, trong khi tiềm năng tăng trưởng vẫn được đảm bảo nhờ backlog ở mức cao cùng với khả năng cao sẽ tiếp tục trúng thầu nhiều dự án lớn trong thời gian tới.
Link tải full báo cáo:
Đây là báo cáo tổng hợp quan điểm từ phía các công ty chứng khoán, KHÔNG PHẢI QUAN ĐIỂM CỦA TEAM.
———-Team LTBNM tổng hợp ————-
Nhập mã “LTBNM” để được giảm giá 10% khi mua acc tại wichart.vn. Áp dụng cùng với các chương trình khuyến mại khác nếu có.
– Link room zalo miễn phí: https://zalo.me/g/ajxejn485
– Đăng kí dịch vụ tư vấn: https://langtubuonnuocmam.com/dich-vu

